Tin tức - Sự kiện   /  Trong huyện  /  Bài  /  Bài phản ánh
Người anh hùng và ký ức về 30.4
Ngày đăng: 14/04/2015

 Chiến tranh đã lùi xa, 40 năm sống trong hoà bình, nhưng với ông là người lính đã từng vào sinh ra tử, ông không thể nào quên những quá khứ hào hùng của một thời để nhớ. 10 năm vật lộn trên những cung đường ác liệt phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Với những thành tích xuất sắc ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân. Ông là anh hùng Nguyễn Thái Giám, hiện đang cư trú ở phố Mới thị trấn Cao Thượng huyện Tân Yên.
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống yêu nước ở thôn Ngõ Đá xã Việt Ngọc huyện Tân Yên. Tháng 2 năm 1964 nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, chàng trai trẻ Nguyễn Thái Giám vừa tròn 22 tuổi đời, tình nguyện lên đường làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và được biên chế vào Trung đoàn 305 là đơn vị chiến đấu "bộ đội nhảy dù". Sau những tháng ngày huấn luyện, ông được đơn vị cho đi học lái xe tại trường 255 do bộ quốc phòng quản lý, rồi nhận nhiệm vụ tại đại đội Binh trạm 1. Nay là Lữ đoàn 354 thuộc cục hậu Cần quân khu 4 chuyên chở bộ đội, hàng hoá, vũ khí, đạn dược, lương thực phục vụ quân đội ta chiến đấu. Với ông tuy không trực tiếp cầm súng đối mặt với kẻ thù nhưng ông là một tay lái trường sơn đã làm nên huyền thoại, góp phần không nhỏ cho đại thắng mùa xuân năm 1975. Có 10 năm cầm vô lăng, ông thuộc lòng trong đầu từng cung đường, chỗ ngoặt, đâu là vực sâu, ông đều nắm rõ. Ở nơi chiến trường ác lịêt - nơi mà sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc đòi hỏi người lái xe không chỉ có lòng dũng cảm ngoan cường mà phải rất linh họat, mưu trí tránh địch. Thời kỳ ấy để không bị địch phát hiện, đoàn xe chủ yếu hành quân vào ban đêm. Trong hàng ngàn chuyến hàng chở vào chiến trường, qua các cao điểm bị địch oanh tạc dữ dội, các con đường giao thông của ta từ Bắc vào Nam, hầu như có những trọng điểm, chúng đánh phá suốt ngày đêm như: Bãi Dinh, Cổng trời, Đường 12 (Biên giới giữa Việt Nam và Lào). Ông không nhớ cùng đồng đội đã bao lần đào bới kê kích cứu xe cứu hàng và đồng đội. Trò chuyện với ông trong căn nhà nhỏ tại Phố Mới thị trấn Cao Thượng huyện Tân Yên, ông chậm rãi hồi tưởng lại những năm tháng chiến đấu ở chiến trường khốc liệt, và có một kỷ niệm mà bây giờ ông vẫn nhớ như in: “Tôi nhớ vào năm 1967 đoàn xe của chúng tôi khoảng 50 xe từ Việt Nam vận chuyển hàng vũ khí, khi tới trọng điểm Bãi Dinh khoảng 4 giờ sáng, được bộ đội công binh cho biết, trước đó địch đánh phá, đường tuy hỏng nhẹ, nhưng bom nổ chậm khá nhiều, có quả nằm ngay trên mặt đường, yêu cầu đoàn xe quay lai, thông đường xe mới qua được, trong khi đó trời sắp sáng. Lúc này tôi bàn với anh em, đề xuất với chỉ huy lăn bom xuống vực. Có hy sinh chỉ mất vài người mà xe sẽ qua được. Chỉ huy chấp nhận, sau đó những quả bom đã được lính lái xe lăn xuống vực, và được biết khoảng 7 giờ sáng hôm sau có một số quả bom đã nổ. Đoàn xe của chúng tôi đã vượt qua trọng điểm một cách an toàn”.
Mùa xuân năm 1968 cuộc nổi dậy của quân và dân ta ở chiến trường miền Nam thắng lợi rộn rã đã làm cho mỹ ngụy thất bại nặng nề. Không còn cách nào khác, chúng dùng máy bay ném bom, đánh phá, ngăn chặn đường tiếp viện của ta cho chiến trường miền Nam. Đơn vị của ông được lệnh của quân khu là phải khẩn trương, vận chuyển hàng và vũ khí đúng thời gian quy định. Trước tình thế cấp bách, ông xung phong dùng xe đi mở đường, ông nghĩ nếu mình có hy sinh và mất một xe hàng song đã có hàng chục chiếc xe, hàng trăm tấn hàng mà chiến trường đang mong đợi. Xe ông bị bom đánh trúng hư hỏng, người bị thương ngất đi sau đó ông được đồng đội đưa đi cấp cứu tại trạm cứu thương.
Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, năm 1973 được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý, Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân, 6 năm đạt chiến sỹ quyết thắng, 4 năm đạt chiến sỹ thi đua, 3 huân chương chiến công hạng 3. Chiến tranh kết thúc, ông được đơn vị cử đi học. Trải qua một số vị trí công tác như: Hiệu phó chính trị trường lái xe Quân khu 1, Phó chủ nhiệm chính trị cục kỹ thuật Quân khu 1 và đoàn trưởng đoàn 157 Quân khu 1. Năm 2000 ông về nghỉ hưu với quân hàm đại tá.
40 năm đất nước thống nhất vẹn toàn, những người lính ra đi khi tuổi còn xanh, nay tóc đã bạc trắng. Nhưng với ông thật sự tự hào: ông đã cống hiến những ngày đẹp nhất cho chiến trường, cho sự nghiệp chiến đấu giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Nay trở về với đời thường ông gương mẫu, tích cực tham gia các hoạt động cùng bà con khối phố, thường xuyên tham gia các buổi nói chuyện truyền thống cho học sinh. Với bản chất người lính Cụ Hồ, người đảng viên 49 năm tuổi Đảng, ông luôn nhắc nhở mình phải gương mẫu, chấp hành tốt mọi chủ trương chính sách phpá luật của Đảng và Nhà nước để con cháu noi theo./.
                                                                                                                                                                                CTV Thanh Nga

Thông tin hữu ích